A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

RỪNG XÀ NU, MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN

Đã trở thành thói quen, người giáo viên dạy văn luôn đứng dưới góc nhìn xã hội học để tìm hiểu tác phẩm nên bỏ qua một khía cạnh vô cùng quan trọng: góc nhìn văn hoá. Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một thực thể văn hoá. Tác phẩm không chỉ là tư tưởng, nó còn là văn hoá. Bởi vậy chỉ có thể hiểu đúng và đầy đủ tác phẩm khi biết đặt vào cái nôi văn hoá, nơi nó sinh thành.
RỪNG XÀ NU, MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN
Đã trở thành thói quen, người giáo viên dạy văn luôn đứng dưới góc nhìn xã hội học để tìm hiểu tác phẩm nên bỏ qua một khía cạnh vô cùng quan trọng: góc nhìn văn hoá. Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một thực thể văn hoá. Tác phẩm không chỉ là tư tưởng, nó còn là văn hoá. Bởi vậy chỉ có thể hiểu đúng và đầy đủ tác phẩm khi biết đặt vào cái nôi văn hoá, nơi nó sinh thành.

Từ bao nhiêu năm nay, khi dạy tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, người ta chỉ mặc nó vào cái áo may sẵn: "cảm hứng sử thi, cách mạng" và xem tác phẩm như là một biểu trưng tinh thần bất khuất của các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, của dân tộc Việt Nam nói chung. Điều này là đúng và cần thiết. Thế nhưng, nếu chỉ thế thôi thì chẳng khác gì đem "chặt to kho mặn" (như lời nhà văn nói về thực trạng dạy Rừng xà nu hiện nay) tác phẩm vốn chứa đựng rất nhiều những giá trị văn hoá độc đáo và kỳ lạ của người Tây Nguyên. Không chỉ là văn hoá, Rừng xà nu còn thấm đẫm thâm tình thuỷ chung vốn là đặc trưng làm nên tính cách cũng như sức mạnh của con người Tây Nguyên.

Rừng xà nu là một truyện ngắn hoàn hảo ở hình thức nghệ thuật với một kết cấu hết sức chặt chẽ. Đó là sự đan xen giữa không gian hiện thực và không gian hồi ức được bao bọc trong một cánh rừng xà nu. Trong cái không gian đan cài ấy nổi lên hai nhân vật: cụ Mết và Tnú. Từ hai nhân vật chính ấy nổi lên hai biểu tượng: truyền thống và hiện đại. Từ hai biểu tượng ấy nổi lên hai chủ đề: chiến tranh cách mạng và văn hoá truyền thống làm nên tình người cao đẹp và sự cố kết cộng đồng. Chủ đề chiến tranh cách mạng xin không đề cập trong bài viết này, bởi nó đã được khai thác một cách triệt để đến độ có cảm giác như là sự khai thác rừng ở Tây Nguyên hiện nay: trần trụi và tàn nhẫn.

Rừng xà nu, bên cạnh ngọn lửa xà nu hừng hực nóng còn có ngọn gió mát dịu từ con suổi và máng nước đầu làng, từ không khí nhà rông. Rất tiếc rằng "ngọn gió mát" ấy lâu nay không được tìm hiểu một cách thấu đáo nên đã làm giảm đi rất nhiều vẻ đẹp của truyện ngắn được cho là thành công nhất của nhà văn Nguyên Ngọc sau "Đất nước đứng lên". Ngọn gió mát ấy chính là cái tình người sâu nặng của cộng đồng Xô-man. Sự kiện Tnú trở về sau ba năm đi lực lượng đã làm cho không khí thâm trầm của làng bỗng nhiên rạo rực hẳn lên: "Ở mỗi cửa nhà ló ra bốn, năm cái đầu ngơ ngác. Những cặp mắt tròn xoe, rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo...cả làng đã vây chặt quanh Tnú". Hơn ở đâu hết, không gian làng ở Tây Nguyên là một không gian luôn đầy ắp tình người. Tính cộng đồng và lẽ công bằng đã làm nên đặc điểm đó của người Tây Nguyên. Đối với họ, chuyện của một gia đình cũng là chuyện của làng, một nhà có khách là cả làng đến chia vui, không cần phải mời mọc. Thật hạnh phúc biết bao! Đêm Tnú trở về, cả làng tụ họp ở nhà cụ Mết để không phải chỉ nghe những lời giáo huấn của truyền thống mà quan trọng hơn là để thể hiện niềm ân tình đối với một thành viên của cộng đồng. Đó là tình cảm thiêng liêng mà người Tây Nguyên hằng tôn thờ như là sự tôn thờ Giàng tốt của họ. Vốn là người rất am hiểu đời sống Tây Nguyên, tác giả đã dành rất nhiều chi tiết để nói về tình cảm này mà trong khuôn khổ bài viết, không thể dẫn hết ra được.

Nguyễn Trung Thành cũng đã dành một mảnh đất rất lớn ở phần đầu tác phẩm để đón bước chân Tnú trở về. Nếu chúng ta để ý một chút sẽ thấy rõ điều này: bé Heng đón Tnú ở chỗ "con nước lớn", rồi đến chỗ "con suối nhỏ dẫn nước từ trong lòng đá ra" bé Heng bảo Tnú "rửa chân đi". Tại sao phải rửa chân? Ở Xô-man, ranh giới giữa làng và rừng là một dòng nước. Bên kia là rừng, bên này là làng. Rừng là tự nhiên, làng là văn hoá (theo định nghĩa những gì không phải tự nhiên là văn hoá). Chỉ là dòng nước thôi nên ranh giới ấy là hết sức mong manh, rừng có thể chiếm lại làng bất cứ lúc nào. Người Tây Nguyên quan niệm rừng là nơi ngự trị của thần linh và cả ma quỉ (rừng phía tây) cho nên bước chân ra khỏi làng vào rừng là con người dễ trở thành "cái tự nhiên", trở thành "người rừng" đầy mê hoặc. Bởi vậy khi Tnú bước chân vào làng là phải "rửa chân", tức phải gột rửa "bụi bặm" của "người rừng" để trở về tinh khiết của "người làng"- một thực thể đã được văn hoá làng thanh lọc.

Văn hoá làng Tây Nguyên được nhà văn thể hiện rất đặc sắc qua hình ảnh máng nước đầu làng. Khi đến suối nước nhỏ đầu làng, Tnú "bỏ mũ, cởi mấy khuy áo trên ngực, rồi khom lưng xuống, ngửa hai bàn tay vả nước lên mặt, lên đầu. Nước mát lạnh đến tê người. Máu trong đầu anh phản ứng, giần giật ở hai bên má". Hành động của Tnú rất nhẹ nhàng, cẩn thận và có cái gì đó thành kính. Thành kính bới bến nước là không gian thiêng liêng bậc nhất trong làng (cùng với không gian nhà rông). Hàng năm cứ đến mùa "ăn năm uống tháng" dân làng đều tổ chức lễ cúng bến nước rất trang trọng để tạ ơn thần nước. Bên nước không chỉ đem lại nguồn nước sinh hoạt cho làng, nó còn là nơi gặp gỡ tâm tình của dân làng sau mỗi buổi đi rẫy về (điểm này giống với bến nước của làng Bắc bộ). Bởi vậy bến nước là nỗi nhớ, là niềm thương da diết của những người đi xa làng. Ta hiểu vì sao sau khi vả nước lên đầu, Tnú "không lau khô đầu tóc", Tnú để cho tình làng mơn man da thịt anh.

Bến nước cũng là thước đo cho tình cảm thuỷ chung với làng. Gặp Tnú, cụ Mết hỏi: "Mày có nhớ cái máng nước ở chỗ nào không?...Nhớ à, được! Tưởng quên rồi thì tau đuổi ra rừng, không cho ở làng nữa đâu". Ở Tây Nguyên, hình phạt khủng khiếp nhất là bị tách ra khỏi cộng đồng, tức bị đuổi ra rừng. Khi ấy con người chỉ biết trở về với bản nguyên rừng, tức phải chọn cái chết. Nếu Tnú mà quên cái máng nước của làng (mà quên bến nước của làng cũng tức là không thuỷ chung với làng) thì sẽ nhận hình phạt nặng nhất, cũng có nghĩa là con người ấy đáng khinh bỉ nhất.

Tuy vậy, vẫn có một khía cạnh thú vị khác, đó là việc cụ Mết "thân hành dẫn anh ra tới máng nước đầu làng". Điều này cho thấy được vai trò to lớn của người già làng ở Tây Nguyên trong việc tổ chức đời sống tinh thần và giữ gìn văn hoá làng. Nếu bé Heng nhắc anh "rửa chân" thì cụ Mết lại đưa anh ra máng nước, tức dắt anh trở về với cội nguồn làng, với cộng đồng đã nuôi anh khôn lớn cả thể xác lẫn tâm hồn. Hành động của cụ Mết cho chúng ta thấy được lòng nhân ái và sự hiền minh của một tộc người nhỏ bé sống heo hút trên sườn núi Ngok Linh.

Dù Tnú đã rửa sạch ở con suối nhỏ rồi nhưng khi được cụ Mết dẫn ra máng nước đầu làng, anh vẫn rửa lại "Anh cởi áo ra để cho vòi nước lạnh ngắt của làng mình giội lên đầu, lên lưng, lên ngực như những ngày xưa...". Khác với câu chữ cuồn cuộn khí thế trong trận quyết chiến với bọn thằng Dục, giọng văn ở đây nhẹ nhàng và sâu lắng như chính tình cảm của cộng đồng làng. Ở chỗ máng nước, Tnú đã được đắm mình trong mảnh hồn làng thân thương nhất, không phải chỉ một lần mà hai lần mới thoả nỗi nhớ mong.

Có một chi tiết rất đáng chú ý mà chắc chắn Nguyễn Trung Thành gửi gắm rất nhiều ý tưởng của mình, đó là tiếng chày giã gạo của dân làng. Cái âm thanh mà Tnú "nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm". Cũng như tiếng mái chèo đuổi cá ở những làng đánh cá ven sông miền xuôi, tiếng chày giã gạo của làng miền núi đã trở thành âm thanh của ký ức mà những lúc đi xa, người ta nhớ đến nao lòng. Tnú cũng vậy, cái âm thanh được tạo nên bởi bàn tay của mẹ, của Mai, của Dít, của những người phụ nữ Strá đã đi vào tâm thức của anh. Đó cũng là một mảnh hồn làng mà anh luôn theo bên mình để nhắc nhở anh, để thôi thúc anh, để đưa anh trở về nguồn cội. Cho nên khi Tnú nghe lại âm thanh ấy thì "ngực anh đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái rế cây ở chỗ ngã quẹo vào làng". Anh đã xúc động thật sự, yêu thương thật sự. Điều này cho thấy đời sống tâm hồn phong phú của Tnú, bên cạnh phẩm chất anh hùng của anh. Có thể nói sức sống của văn hoá làng đã tạo nên sức mạnh của những con người như cụ Mết, Tnú, Mai, Dít...Đó là sức sống Tây Nguyên.

Dưới góc nhìn văn hoá, ta thấy Rừng xà nu có nội dung rất quan trọng: văn hoá làng và những tình cảm thâm trầm, cao đẹp. Và đó là cơ sở của nội dung thứ hai: tinh thần bất khuất của người Tây Nguyên. Tinh thần ấy lớn mạnh được là nhờ nó bám rễ sâu chặt vào "đất làng".

Vẫn biết rằng trong thời lượng ít ỏi, người thầy khó mà chuyển tải được hết cái hay cái đẹp của một tác phẩm. Tuy nhiên hoàn toàn chúng ta có thể gợi ý cho học sinh những giá trị khác ngoài cái giá trị đã quá quen thuộc đến nỗi trở nên nhàm chán. Ở Rừng xà nu, chính những mảng màu văn hoá sẽ kích thích "thị giác" của các em, đem đến những điều mới lạ và rất có thể sẽ làm cho giờ dạy hấp dẫn hơn.

                                                                                                    Đặng Văn Vũ
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 13
Hôm qua : 40
Tháng 08 : 440
Năm 2020 : 3.017